Giá Trị Thặng Dư Có Nghĩa Là Gì? Bản Chất Và Ý Nghĩa

0
3419

Giá trị thặng dư (GTTD) là một trong những khái niệm quan trọng nhất của kinh tế chính trị Mác – Lênin. Có thể đối với nhiều người, giá trị thặng dư là một điều gì đó khá trừu tượng và khó hiểu. Vì thế hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về giá trị đặc biệt này nhé.

1. Tổng quan về giá trị thặng dư

1.1. Khái niệm

Giá trị thặng dư (GTTD) là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Các Mác. Ông đã nghiên cứu và đưa ra được một số công thức tính toán xung quanh khái niệm này trong các tác phẩm viết về kinh tế chính trị của ông. Nó được sử dụng để khẳng định giá trị lao động thặng dư của người công nhân bị các nhà tư bản lấy đi và được cho là nền tảng cho sự tích lũy tư bản.

Hiện nay có khá là nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến GTTD. Tuy nhiên bạn có thể hiểu giá trụ này theo cách đơn giản như sau. 

Giá trị thặng dư chính là giá trị do người công nhân làm thuê lao động từ đó sản sinh ra giá trị vượt quá sức lao động của họ nhưng lại bị nhà tư bản chiếm đoạt. Đối với các hoạt động sản xuất, vốn của nhà tư bản phải chi vào nguyên liệu sản xuất và mua sức lao động của công nhân. Mục đích của việc bỏ tiền vốn này nhằm thu được một số tiền dư ra từ số tiền mà họ đã chi trong quá trình sản xuất. Số tiền này còn được gọi là GTTD.

Như vậy, tổng kết lại thì phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê lao động tạo ra nhưng bị nhà tư bản chiếm hết và  phần này được gọi là giá trị thặng dư

giá trị thặng dư (GTTD)
Khái niệm giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư được Các Mác nghiên cứu dưới góc độ là hao phí công sức lao động. Dưới góc nhìn này công nhân làm thuê sản xuất ra nhiều giá trị hơn mức chi phí họ nhận lại được. Ông cho rằng nó là yếu tố được quy định bởi mức lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách là người lao động. Đối với Các Mác sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được loại bỏ hoàn toàn chỉ khi nhà tư bản trả cho người lao động toàn bộ giá trị họ được tạo ra. 

Hiện này có 2 phương pháp chính để thu được GTTD: 

  • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư “tuyệt đối”.
  • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư “tương đối”. 

1.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

Giá trị thặng dư tuyệt đối vô cùng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản

Giá trị này thu được từ việc kéo dài ngày lao động vượt giới hạn về thời gian lao động cần thiết. Ngày lao động được kéo dài còn thời gian lao động cần thiết không thay đổi từ đó dẫn đến thời gian lao động thặng dư tăng lên. 

Vậy phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối chính là phương pháp kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị cũng như thời gian lao động tất yếu không đổi. Đây được coi là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. 

Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản bởi vì đây chính là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công và có năng suất lao động còn thấp. Lúc này với lòng tham của mình, các nhà tư bản giở mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động của công nhân nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động của họ. 

Tuy nhiên bởi sức lực của con người có hạn cùng với việc công nhân ý thức được điều này từ đó đấu tranh quyết liệt đòi rút ngắn số ngày lao động nên các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động một cách vô thời hạn. 

giá trị thặng dư (GTTD)
Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối

Hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là việc tăng cường độ lao động. Tăng cường độ lao động cũng khá tương tự việc kéo dài thời gian lao động trong ngày cùng với đó thời gian lao động cần thiết không đổi nhưng tăng mức tiêu hao sức lực của người công nhân.

1.3. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

GTTD tương đối là giá trị thu được từ việc rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa vào cơ sở tăng năng suất lao động. Tăng năng suất lao động xã hội đầu tiên là trong ngành sản xuất vật phẩm tiêu dùng từ đó làm cho giá trị của sức lao động giảm xuống. Đồng thời, thời gian lao động cần thiết cũng giảm. 

Khi độ dài của ngày lao động không đổi mà thời gian lao động cần thiết giảm sẽ dẫn đến tăng thời gian lao động thặng dư hay còn gọi là thời gian sản xuất giá trị thặng dư tương đối cho các nhà tư bản.

Phương pháp này sẽ rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị của sức lao động trong điều kiện thời gian lao động và cường độ lao động không đổi từ đó làm tăng thời gian lao động thặng dư lên 

1.4. Giá trị thặng dư siêu ngạch

Các nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư và chiếm ưu thế cạnh tranh nên họ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất. Mục đích là để cải tiến và hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế nhằm nâng cao năng suất lao động. Nhà tư bản nào áp dụng phương pháp này thì hàng hóa khi bán sẽ thu được một GTTD nhiều hơn so với nhà tư bản khác. 

GTTD siêu ngạch hiểu đơn giản hơn chính là phần thặng dư thu được trội hơn phần thặng dư bình thường của một loại hàng hóa trong xã hội. Nếu xét theo từng nhà tư bản xuất thì giá trị này là hiện tượng tạm thời. Tuy nhiên nếu xét trên toàn xã hội tư bản thì GTTD siêu ngạch tồn tại một cách thường xuyên. Do đó điều này chính là động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho các nhà tư bản để cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất lao động. 

Có thể thấy rằng cả hai GTTD tương đối và siêu ngạch đều dựa vào cơ sở là việc tăng năng suất lao động. Tuy nhiên chúng khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương đối sẽ dựa vào cơ sở tăng năng suất lao động của xã hội. Trong khi thặng dư siêu ngạch sẽ dựa trên việc tăng năng suất lao động cá biệt. 

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng

Theo các định nghĩa trên thì có thể thấy rằng các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thặng dư chính là:

  • Năng suất lao động
  • Thời gian lao động
  • Cường độ lao động
  • Công nghệ sản xuất
  • Thiết bị, máy móc
  • Vốn

1.6. Ý nghĩa

Nếu xét thuần túy trong lĩnh vực kinh tế, bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào có chi tiền vào trong quá trình sản xuất và kinh doanh cho dù là trực tiếp hay gián tiếp như là thông qua đầu tư chứng khoán hoặc thậm chí gửi ngân hàng. Đồng tiền sẽ trở thành công cụ để sinh lời. 

giá trị thặng dư (GTTD)
Ý nghĩa của giá trị thặng dư

Mỗi cá nhân đều có thể trở thành một nhà tư bản nếu biết cách sử dụng hợp lý nguồn vốn của mình trong đầu tư kinh doanh. Nếu tiền chỉ để tích lũy thuần túy thì đó được coi đồng tiền chết, không những không có lợi ích cho cá nhân đó mà còn không mang lại lợi ích cho những người khác cần vốn để sản xuất.

Trong bất kì xã hội nào cũng đều cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư, nếu nhà tư bản áp dụng được vào sản xuất của công nghệ sản xuất tiên tiến hay sử dụng được tri thức cũng như trí tuệ vào trong quá trình sản xuất sẽ làm tăng GTTD mà không cần kéo dài thời gian lao động hay cường độ lao động gây ảnh hưởng đến những người lao động.

Công thức cũng chỉ ra cách thức tích lũy từ đó làm tăng số tiền đây là cơ sở để tái sản xuất hay mở rộng, phát triển quy từ đó làm tăng trưởng kinh tế.

2. Phương pháp đo lường giá trị thặng dư

Công thức để đo lường căn cứ vào việc xác định giá thành của sản phẩm:

                               GT = C + V + m -> m = GT – (C + V)

Trong đó:

C là phần tư bản bất biến được chuyển vào giá trị của hàng hóa. C bao gồm 02 bộ phận chính là C1 và C2. 

C1 là phần khấu hao của tài sản cố định phân bổ cho mỗi một đơn vị hàng hóa, phần này không được tăng lên hay giảm đi trong quá trình sản xuất mà nó chỉ chuyển dịch giá trị từ TSCĐ vào trong giá trị hàng hóa, sau đó các nhà tư bản sẽ thu hồi lại bằng việc trích quỹ khấu hao. 

giá trị thặng dư (GTTD)
Công thức tính giá trị thặng dư

C2 là giá trị của nguyên, nhiên, vật liệu, phụ liệu, phụ gia,… cũng như giá trị công cụ, dụng cụ rẻ tiền hoặc mau hỏng (những dụng cụ này thường là có thời gian sử dụng không trên 1 năm) phân bổ cho mỗi đơn vị hàng hóa. Phần này được chuyển hết 1 lần vào trong giá trị hàng hóa (nếu là công cụ, dụng cụ rẻ tiền mau hỏng thì phân bổ từng phần nhưng sẽ không quá 1 năm). 

Cả C1 và C2 đều không trực tiếp tạo được giá trị mới mà nó chỉ là phương tiện để sinh ra thặng dư mà thôi nên nó mới được gọi là tư bản “bất biến”, Chính đặc điểm này đã che đậy GTTD mà lại chỉ biểu hiện ra bên ngoài bằng lợi nhuận thu được.

V chính là phần tiền công mà các nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động của người lao động, nó còn được gọi là lao động sống tạo ra giá trị mới của hàng hóa, không những chỉ chuyển toàn bộ giá trị của mình vào giá trị hàng hóa mà nó còn tạo thêm phần giá trị tăng thêm hay giá trị m, vì thế nó mới có tên là tư bản “khả biến”.

Phần giá trị tăng lên này cũng được hình thành do phần hao phí lao động trừu tượng của công nhân được kết tinh vào hàng hóa, nhưng lại bị nhà tư bản chiếm đoạt, không chỉ trả cho người tạo ra nó. Điều này tức là nhà tư bản đã mua giá trị lao động của công nhân thấp hơn giá trị thật của chính nó, phần chênh lệch với giá trị thật của sức lao động này với giá trị mà nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động của công nhân chính là giá trị thặng dư đây cũng chính là vấn đề cốt lõi mà ta đang bàn tới.


Hy vọng bài viết này sẽ đem lại những thông tin vô cùng hữu ích và giúp bạn hiểu hơn về giá trị thặng dư – một giá trị vô cùng quan trọng trong cuộc sống.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây