Lập Dàn Dàn Ý Và Phân Tích Bài Nhàn Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

0
815

Phân tích bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tài vô cùng thú vị. Qua bài phân tích chúng ta có thể khám phá được quan niệm sống Nhàn cũng như những nét nghệ thuật đặc sắc được tác giả sử dụng trong bài. Vì thế cùng đi phân tích bài Nhàn ngay thôi nào.

1. Tìm hiểu chung và lập dàn ý phân tích bài Nhàn

1.1. Tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1481 mất năm 1585, tên húy là Nguyễn Văn Đạt, tự là Hạnh Phủ. Quê của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Huyện Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng hiện nay.

Vào thế kỷ XVI, ông đỗ Trạng Nguyên và làm quan dưới triều Mạc. Làm quan được 8 năm, ông dâng sớ lên vua xin chém đầu 18 tên lộng thần. Nhưng không được vua chấp nhận, ông cáo quan về quê, dựng lên am Bạch Vân, lập quán Trung Tân và mở trường dạy học. Lúc này ông lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là tài tử vô cùng nổi tiếng, có học vấn uyên thâm, có nhiều học trò danh tiếng, được người đời suy tôn là Tuyết Giang Phu Tử. Mặc dù đã cáo quan về quê nhưng ông vẫn tham vấn cho triều đình nhà Mạc nên được phong tước Trình Quốc Công, do đó ông còn có tên là Trạng Trình.

Phân tích bài Nhàn
Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Với sự nghiệp thơ ca, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là một tác giả lớn của nền văn học Việt Nam ở thế kỷ XVI. Những tác phẩm nổi tiếng của ông có thể kể đến: Tập thơ Bạch Vân am thi tập viết bằng tiếng Hán gồm 700 bài. Bạch Vân quốc ngữ thi bằng tiếng Nôm gồm 170 bài. Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa phê phán những điều xấu xa trong xã hội cũ lại vừa ca ngợi thủ sống thanh nhàn mang tính triết lý.

1.2. Tác phẩm Nhàn

Là một bài thơ trích trong tuyển tập Bạch Vân quốc ngữ thi, Thơ Đường Luật thuộc thể thơ thất ngôn bát cú.

Bố cục bài thơ Nhàn gồm 2 phần:

  • Phần 1: 4 câu thơ đầu: Cuộc sống “nhàn”
  • Phần 2: 4 câu thơ cuối: Triết lý của việc sống nhàn và thể hiện nhân cách của tác giả.

1.3. Dàn ý phân tích Nhàn của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề bài: Phân tích bài Nhàn để thấy được lối sống và suy nghĩ thanh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Dàn ý Phân tích bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

1.3.1. Mở bài

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm và tập thơ Bạch Vân quốc ngữ thi tập cùng bài thơ Nhàn. Sau đó dẫn dắt vào bài phân tích.

1.3.2. Thân bài

I. Phân tích hai câu đề: Hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

  • Các hình ảnh: Mai, cuốc, cần câu: Đây đều là những dụng cụ lao động cần thiết và quen thuộc của người nông dân.
  • Sử dụng phép liệt kê kết hợp với số từ “một”: Gợi nên hình ảnh người nông dân đang điểm lại những công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng.
  • Nhịp thơ 2-2-3 thong thả và đều đặn

Cho thấy cuộc sống ở quê nhà, Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn bó với công việc nặng nhọc, lam lũ của một lão canh điền. Nhưng tác giả lại cho thấy mình rất yêu và tự hào về thú vui điền viên ấy.

  • Trạng thái “thơ thẩn”: Tâm trạng vui vẻ mãn nguyện, cùng trạng thái ung dung, tự tại của nhà thơ.
  • Cụm từ phủ định “dầu ai vui thú nào”: Phủ nhận thể hiện sự không quan tâm đến những thú vui mà người đời thường hay theo đuổi.

Hai câu thơ khái quát cho người đọc thấy được hoàn cảnh sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà mặc dù vất vả, lam lũ, mệt nhọc nhưng tâm hồn lúc nào cũng thư thái, thanh thản. Tâm thế ung dung, tự tại và triết lí sống nhàn của ẩn sĩ  chính là “nhàn tâm”.

II. Hai câu thực: Quan niệm sống của nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nghệ thuật đối nghịch: ta với người, dại và khôn: Nhấn mạnh quan niệm sống khác biệt mang tính triết lý, thâm trầm của nhà thơ.

Sử dụng nghệ thuật ẩn dụ:

  • “Nơi vắng vẻ”: Tượng trưng cho những chốn yên tĩnh, thưa người, nơi đó có nhịp sống yên bình, êm ả. Ngụ ý chỉ chốn quê nhà của tác giả.
  • “Chốn lao xao”: Tượng trưng cho những nơi ồn ào, đông đúc huyên náo, tấp nập, cuộc sống luôn xô bồ và bon chen dẫn đến sự giành giật, đố kị. Ở đây tác giả chỉ chốn quan trường.
Phân tích bài Nhàn
Cuộc sống thanh nhàn nơi vùng quê dân dã trong phân tích bài Nhàn

Cách nói ngược: Ta dại – người khôn:

  • Ban đầu có vẻ sẽ hợp lý vì chỉ khi ở chốn quan trường mới đem lại cho con người tiền tài và danh vọng, còn con người ở nơi thôn dã cuộc sống sẽ vất vả, cực khổ.
  • Tuy nhiên, thực chất dai mới là khôn bởi ở nơi thôn quê con người mới được sống an nhiên, thanh thản. Khôn lại thực chất là dại bởi chốn quan trường con người luôn phải gồng mình bon chen và không được sống là chính mình.

=> Thể hiện quan niệm sống “lánh đục về trong” và sự tự tin hài long vào sự lựa chọn của bản thân cũng như hóm hỉnh mỉa mai quan niệm sống bon chen của đa phần người thiên hạ.

III. Hai câu luận: Nói về cuộc sống của tác giả ở chốn quê nhà.

  • Sự xuất hiện của cả bốn mùa trong năm: Xuân, hạ, thu, đông. Thể hiện tác giả có cuộc sống gắn bó, hài hòa với tự nhiên của tác giả.
  • Việc ăn uống: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Đây đều là những món ăn thôn quê dân giã, giản dị và có nguồn gốc tự nhiên, có thể tự cung tự cấp.
  • Chuyện sinh hoạt: Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao. Nói lên thói quen sinh hoạt hòa mình với tự nhiên, thoải mái, có sự kết nối, quấn quýt giữa con người với thiên nhiên.
  • Cách ngắt nhịp 4/3 rất nhịp nhàng cùng kết hợp với cách điệp cấu trúc câu. Gợi nên thư thái nhip nhàng, thong thả của chính tác giả.

Hai câu thơ chính là bức tranh bốn mùa có cả cảnh đẹp xen lẫn với cảnh sinh hoạt dân dã của con người. Sự hài lòng của tác giả về cuộc sống đạm bạc, giản dị, hòa hợp với thiên nhiên mà vẫn sáng ngời nét thanh cao, tự do thoải mái của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

IV. Hai câu kết: Triết lí sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Sử dụng điển tích giấc mộng đêm hòe: Tác giả thể hiện quan điểm coi phú quý tựa như một giấc chiêm bao. Thể hiện sự tự thức tỉnh, tự cảnh tỉnh chính mình và đời đồng thời khuyên mọi người nên xem nhẹ những vinh hoa phù phiếm.

Động từ “nhìn xem”: Tô đậm được thế đứng cao hơn người và đầy tự tin của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Triết lí sống Nhàn đó là biết từ bỏ những thứ vinh hoa phù phiếm vì đó chỉ là một giấc mộng mị, khi con người ta nhắm mắt xuôi tay thì mọi thứ đều trở nên vô nghĩa, chỉ có tâm hồn, nhân cách chúng ta mới tồn tại mãi mãi.

Phân tích bài Nhàn
Con người sống “Nhàn” hòa hợp với tự nhiên trong phân tích bài Nhàn

Thể hiện vẻ đẹp nhân cách của tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm: Coi khinh danh lợi, cốt cách thanh cao và tâm hồn trong sáng.

1.3.3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề và nêu cảm nhận của bản thân sau khi phân tích bài Nhàn.

2. Bài văn mẫu phân tích Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề bài: Phân tích bài Nhàn để thấy được lối sống và suy nghĩ thanh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Bài mẫu phân tích bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) ông đã sống gần trọn đời mình trong một thế kỷ đầy biến động của chế độ phong kiến Việt Nam, đó là thời Lê – Mạc xưng hùng cùng Trịnh – Nguyễn phân tranh. Trong những cuộc đối đầu làm chấn động và rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa dâng sớ vạch trần những thế lực đen tối làm cuộc sống nhân dân khổ cực, bị thương vừa bảo vệ cho những giá trị đạo lí tốt đẹp của cuộc sống qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng một thái độ thâm trầm của bậc đại nho.

Nhàn là một bài thơ Nôm vô cùng nổi tiếng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông đã nêu lên quan niệm sống của một bậc ẩn sĩ, vượt ra những cái tầm thường xấu xa của cuộc sống bon chen, đua đòi vì danh lợi. Chúng ta cùng đi tìm những triết lý tốt đẹp ấy qua việc phân tích bài Nhàn của ông. 

Tác giả đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để nói lên quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm, đúc kết ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc loạn lạc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại đen tối, lánh đời thoát tục, tìm đến vui trong thiên nhiên cây cỏ, hoa lá  giữ mình thanh bạch. Cuộc sống nhàn tản bất ngờ hiện lên với bao điều thú vị.

“Một mai, một cuốc, một cần câu,

Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

Xuất hiện đầu tiên trước mắt người đọc là một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn của công việc đồng áng giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là một cách chọn lựa thú hưởng thụ an nhàn cao quý của nhà đại nho, họ tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách lựa chọn đối lập dứt khoát với các loại vui thú khá, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao từ cuộc sống đậm chất dân quê, thôn dã này! 

Dáng vẻ của nhà thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Những vật dụng lao động quen thuộc của người nông dân bình thường nay lại trở thành hiện thân của cuộc sống thanh nhàn không vướng bận lo toan tục lụy. 

Phân tích bài Nhàn
Lễ Hội tưởng nhớ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đằng sau những liệt kê của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta nhận ra được những suy nghĩ của ông gắn liền với quan điểm thân dân của một con người từng làm quan và giờ đây lại chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Tác giả đã nhìn thấy từ cuộc sống nông điền của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, thanh cao của một triết lý nhân sinh vững bền.

Sau khi đã thông suốt, đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ tự tin khẳng định một thái độ sống khác người đầy bản lĩnh.

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

Người khôn người đến chốn lao xao”

Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với “những người còn lại” lựa chọn cho mình những vui thú nào thì sẽ xuất hiện ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng của họ giữa cuộc đời. Phép đối lập cực chuẩn đã tạo thành hai thái cực: một bên là nhà tác giả tự xưng “ta” một cách ngạo nghề, một bên là người, một bên là cái dại của ta và một bên là cái khôn của người hay một nơi vắng vẻ ngược lại với một chốn lao xao. Đằng sau những thái cực ấy là những ngụ ý tạo nên cái nhìn chân thực hơn của người đọc với thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. 

Bản thân tác giả nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời thường lấy lẽ dại – khôn thông thường để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là ngụ ý cho những ham muốn ích kỉ làm “tầm thường” giá trị con người, từ đó bị cuối vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói đối nghịch ấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm chứng tỏ ông xứng đáng có được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì tham lam, sân si, ích kỷ giữa chốn lao xao. 

Nhà thơ cũng chủ động trong việc tìm đến nơi vắng vẻ, không vướng bận bụi trần. Vị Trạng Trình thông thái bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử, một nhà thông thái sớm giác ngộ đạo lý đất trời đã cười cợt vào thói đời bằng một cái nhếch môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một bộ phận lớn con người chạy theo danh lợi. 

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất chìm đắm trong vinh hoa, phú quý Nguyễn Bỉnh Khiêm lại hưởng thụ những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tâm hồn hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng những món quà từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng như được hấp thụ tinh khí của đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận bụi trần. Cuộc sống ấy thanh cao ấy mang dấu ấn lánh đời, gần gũi với triết lý “vô vi” của đạo Lão và “Thoát tục” của đạo Phật. 

Phân tích bài Nhàn
Pho tượng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nhưng gạt sang một bên những triết lý đó, ta nhận ra con người đích thực của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên bằng tất cả cái tầm hồn thanh bạch, tự do tự tại của chính mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen trong hai câu thơ còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn liền phẩm chất thanh cao của người quân tử, đó là sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp trọn vẹn với thiên nhiên là một Nguyễn Bỉnh Khiêm đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của Tuyết Giang Phu Tử được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

Mượn điển tích xưa một cách vô cùng tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thể hiện một thái độ sống dứt khoát, đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gần với đạo Lão, được đánh giá có phần yếm thế tiêu cực, nhưng nếu đặt trong thời đại mà nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo tiền bạc, công danh phú quý vốn dĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng căm ghét và đã lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

“Ơ thể mới hay người bạc ác,

Giàu thì tìm đến, khó thì lui”

(Trích thói đời)

Phú quý đi thường gắn liền với chức quyền, nhưng đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ nó chỉ là cuộc sống của bọn người độc ác, thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng chính là bầy chuột lớn gây hại cho nhân dân mà Nguyễn Bỉnh Khiêm vô cùng căm ghét và được ông lên án trong bài thơ ‘‘Tăng thử” (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ xem phú quý, danh lợi tựa chiêm bao cũng là cách mà nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. 

Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người nông dân trở nên đáng quý và đáng trân trọng vì cuộc sống ấy đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhàn cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội đen tối luôn chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lý sống thanh nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống yên lành, thanh thản tốt đẹp của nhân dân.

Sau khi phân tích bài Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đọc giả có thể hình dung rõ nét triết lý, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nó bộc lộ một cách trọn vẹn một nhân cách của bậc đại trí tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống nông điền của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến đang trên con đường suy vong thối nát. 
Hy vọng qua việc phân tích bài Nhàn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giúp bạn hiểu hơn về con người cũng như triết lý sống của ông từ đó phần nào tìm ra được triết lý sống của đời mình. Và chúc bạn học tập thật tốt.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây